Xuân Tân Mão

Xuân Tân Mão
Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng với tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia (TTg NT Dũng).

14 tháng 2 2013

Tương Lai khai bút đầu Xuân: THỜI GIAN VÀ CUỘC SỐNG


Khai bút đầu Xuân

THỜI GIAN VÀ CUỘC SỐNG

Tương Lai

Chuyện này chẳng có gì mới. Nỗi "Cảm hoài" của Đặng Dung thế kỷ XV vẫn không cũ với buổi hôm nay, "Việc đời dằng dặc mà ta thì đã già rồi, biết làm thế nào"[Thế sự du du nại lão hà]. Thời gian không hào phóng nhưng cũng chẳng nghiệt ngã với riêng ai. Tùy theo quan niệm sống của từng người, thời gian có thể là một thúc bách, một niềm an ủi hay một lời cảnh báo.
Chẳng thế mà ý nguyện lúc lâm chung của Alexandre Đại Đế, con người đã từng chót vót trên đỉnh cao quyền lực lại là : " Ta muốn chính các bác sĩ giỏi nhất khiêng quan tài của ta để chứng tỏ rằng, đối diện với cái chết, chính họ cũng không có quyền năng chữa lành bịnh.. Ta muốn mặt đất được phủ đầy kho báu của ta để mọi người hiểu được rằng, những tài sản vật chất thu gom được tại đây sẽ ở lại trên mặt đất này. Ta muốn hai bàn tay ta được thò ra ngoài quan tài và đong đưa theo gió để cho dân chúng thấy rằng :  chúng ta đến cõi đời này với hai bàn tay trắng, và chúng ta sẽ ra đi cũng với hai bàn tay trắng khi chúng ta đã xài hết kho tàng quí giá nhất của mỗi chúng ta là thời gian!
Câu nói của nhân vật trong "Thép đã tôi" từng một thời được dựng thành châm ngôn dẫn dắt lý tưởng cho một thế hệ tuổi trẻ đang khao khát được sống " mỗi người chỉ sống có một lần , vì vậy phải sống thế nào để lúc nằm xuống..." vốn có vị trí lịch sử của nó trong định hướng sống từng được các kênh truyền thông mở hết công suất. Vào buổi ấy, người ta chưa biết được rằng, cũng từng có một mẫu người khác đã dám tự xác định cho mình một cách sống bằng chính hành động quả cảm của mình mà các kênh truyền thông kia lờ tịt vì không thể biết, hoặc có biết thì lại được giải thích theo một "định hướng " ngược lại.
Chuyện gì thế? Chuyện một nhà thơ nọ "bận việc làm người". Tưởng bận việc gì, hóa ra việc “làm người”. Cả đời bận việc làm người! Thoạt nghe cứ ngỡ như là một câu đùa! Nhưng ngẫm nghĩ kỹ, bỗng giật mình. Đâu có đùa. Đây là câu chuyện nghiêm túc, cực kỳ nghiêm túc, chuyện làm người! Chuyện rằng, trả lời câu hỏi " ông bận việc gì nhất, nhà thơ Hữu Loan thản nhiên đáp: “Bận việc làm người”. Chuyện này bỗng bật dậy trong đầu khi ngồi trước bàn phím máy tính để viết một bài"khai bút đầu xuân" ! Đúng là "bật dậy" vì đây là một suy tư dai dẳng, đúng hơn, một nỗi ám ảnh lớn trong tâm trí khi phải chạy đuổi theo thời gian để  cố làm cho được một số việc mà lòng tự dặn lòng phải hoàn tất khi mà quỹ thời gian còn quá eo hẹp. Mà, "làm người" như nó vốn phải vậy không dễ!
Chẳng thế mà đã từng có một sự phẫn chí đã tạo ra được một hình tượng dữ dội tạc vào thế thái nhân tình : “Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Thốt lên sự phẫn chí dữ dội đó chẳng phải ai khác, mà là Nguyễn Công Trứ, một tài danh hiếm có, “thọ tám mươi tuổi, làm quan trong ba chục năm, mà sao Cụ làm được nhiều việc đến thế, tưởng chừng đời Cụ dài gấp hai, ba kiếp người…cầm quân đến tài danh tướng, làm thơ đến bậc văn hào(1) thế mà, nếu có kiếp sau, thì Cụ không thèm “làm người” nữa. Vậy là cái cớ làm sao?
Con người ấy từng băn khoăn : “Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi, Vạn sáu tiêu nhăng đã hết rồiTrót sinh ra thời phải có chi chi, Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu ”? Chuồi theo dòng chảy thời gian “Trẻ thì nghèo, lớn thì sang, già thì hưu, rốt cuộc lại giấc Hoàng Lương đã tỉnh”! Con người ấy cũng “…đi học đi hiếc, đi thi đi thiếc, lấy vợ lấy việc, làm quan làm kiếc. Ấy ai ai ta cũng ai ai. Ai ấy ấy ta thời ấy ấy …”. Con người ấy kiêu bạc mà rằng, “Nhớ ngày xưa vua Thần Nông giá sắc, vua Đế Thuấn canh vân. Cùng quằng cúng quẳng cùng quăng. Tống bất ngoại bò vàng chi liếm lá”. Uy Viễn tướng công  không cần phải đến cuối đời mới “ngộ” ra một sự thật khá phũ phàng: “Anh phải tự làm hoa tiêu lấy chính mình qua bão giông sấm chớp
Mà đôi khi chỉ để từ mình bay cho đến được chính mình thôi
như nhà thơ Chế Lan Viên đã tự bạch trong di cảo thơ của mình.
Nhà thơ đương đại sống sau cụ Uy Viễn đến hai thế kỷ ấy nhận ra rằng
Khi anh gần chạng vạng
 Thì có người bình minh!
Cho nên
 Đừng lấy hoàng hôn anh ngăn cản
 Ban mai của họ sinh thành”.
Sinh thành, để rồi “từ mình bay cho đến được chính mình thôi”. Mà đến được chính mình quả là khó! Hơn nữa, thật chua chát cho cuộc đến ấy :
Những thi sĩ cỗi già đi quanh cái cây danh vọng già nua
Lượm tên tuổi mình rụng quanh gốc già như quả khế chua
Lượm cái hào quang cũ héo hon như chùm táo rụng.
Họ ăn lại cái miếng ngon một thời danh vọng
Ngon thay là cái quả cuối mùa!”.
Thế mà, “cái quả cuối mùa” của “nhà thi sĩ cỗi già” kia, tác giả của “Màu tím hoa sim”, của "Đèo Cả"...lại có cái vị ngon đến tê lưỡi vì được chưng cất từ chính những năm tháng dữ dội của cuộc đời một con người thật đáng mặt làm người. Con người ấy tự  khẳng định :

                             Là người, chúng ta
                                  không ai biết
                                              cúi đầu.
[Giai phẩm mùa Thu, tập 2, 1956 “Cũng những thằng nịnh hót” ]

Chính vì không biết cúi đầu, cho nên khi trả lời câu hỏi của các bạn thơ về “cuộc đời thật ngang tàng, ngang trái mà cũng thật hiên ngang, một cuộc đời tất tả bận rộn… ông bận việc gì nhất, nhà thơ Hữu Loan thản nhiên : “Bận việc làm người”.(2)
Bận lắm việc “làm người” của một con người không biết cúi đầu, giống như Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Cứ xem công việc mà con người bận bịu ấy đòi hỏi phải bắt tay vào làm, mới thấy ra được chuyện ấy “bận” đến thế nào.
Chẳng hạn như việc “tổng vệ sinh” nhằm làm cho “chế độ chúng ta…sạch” :
Một điều đau xót
Trong chế độ chúng ta
Trong chế độ Dân chủ Cộng hòa
Những thằng nịnh còn thênh thang đất sống
          Chúng nó ngụy trang
Bằng tổ chức
          bằng quan điểm nhân dân
                   bằng lập trường chính sách
Chúng nó còn thằng nào
Là chế độ chúng ta chưa sạch
Phải làm tổng vệ sinh cho kỳ hết
                          mọi thằng.
Những người đã đánh bại xâm lăng
Đỏ bừng mặt vì những tên quốc sỉ

Những người biết “đỏ bừng mặt” ấy đòi hỏi phải
Băng bó lại mùa xuân
Cùng nói lên
            nói lớn
                      một lần
Không được giẫm lên mùa xuân
Không được
                  giẫm chân lên
                                          lòng người.

[ Giai Phẩm, Xuân 1957, nxb Văn Nghệ, Hà Nộị ]

Đòi phải làm những việc tày trời như vậy thì bận cả đời là phải!
Mà chắc gì một đời người  làm được một công việc lớn lao đến thế. Cho dù con người ấy đã từng được gọi là “một Đỗ Phủ của thời mới” : trên báo Văn Nghệ, số 7, tháng 12-1948,  Xuân Diệu viết : “ Tôi yêu, tôi phục bài thơ hoang vu Đèo Cả. Một Đỗ Phủ của thời mới đã gọi cái đèo chênh vênh ấy, đứng trong đất nước ta, đứng giữa Phú Yên với Khánh Hòa, mà lại hóa thành heo hút quá. Vì bên này là ta, bên kia là giặc. Nhất là khi chiến tranh chưa lan toàn quốc, từ Bắc Bộ, đi suốt vào Đèo Cả, lên Đèo Cả thấy bên kia giặc rắc tai ương. Đèo Cả biên thùy, đứng trên đầu bể thẳm đụng tới mây cao, Đèo Cả treo giữa biên thùy, mà cái đẹp trầm hùng ngang với lòng chiến sĩ ”. (3)
Và rồi, tác giả của “Đèo Cả”, cái ông “Đỗ Phủ của thời mới” ấy, nếu chưa được như là danh xưng mà cảm hứng thăng hoa của thi sĩ nọ đã tạo dựng, thì cũng là một tài thơ đã có những đóng góp độc đáo vào nghệ thuật thi ca từ thời 1945 đến lúc ấy [đương nhiên là cả đến tận bây giờ], dứt khoát từ bỏ Thủ đô, từ bỏ tất cả, để trở về cái xóm nghèo nơi ông đã sinh ra ở Nga Sơn, Thanh Hóa làm nghề đẩy xe bò chở những gì người ta thuê, để kiếm sống, và để làm thơ như đã từng làm trước đó nhiều năm.
Vì thế mà không lạ vào dạo ấy, khi tin tác giả “Màu tím hoa sim” mất đã lan nhanh như một phản ứng dây chuyền trong những tâm hồn đồng điệu. Bởi lẽ “Những nhát thơ Hữu Loan đục vào thời gian, đục vào tâm khảm, để lại dấu tích” cho cuộc đời. Nhưng có lẽ cùng với những “nhát thơ” đó, cái mà xã hội nhớ đến ông, trân trọng ông là bản lĩnh, là nhân cách của ông, như ông đã tự nói về mình : “Tôi, cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời". (4)                                                                                                                                                                                                  
Chính vì không chịu để cho ai “đẽo tròn” cái phẩm tính làm người, mà người đã từng được bầu làm Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân lâm thời tại Thanh Hoá nhận ra cái ghế chủ tịch không hợp với “tạng” của mình nên ông xin vào bộ đội, rồi làm Trưởng Phòng Tuyên huấn sư đoàn, nói theo ngôn từ của một lão nông xứ Thanh: “đỗ tú tài Tây, làm quan cách mạng thời khởi nghĩa 45, thời kháng chiến(5), bỏ thủ đô về lại làng quê kiếm sống với nghề đục đá đẩy xe ra chợ bán. Cứ thế, ông sống bằng cái nghề vất vả, cực nhọc trong suốt mấy chục năm trời để nuôi con ăn học và để “làm thơ”! Và chính đó là cội nguồn của sự đồng cảm và tôn vinh của xã hội hôm nay đối với một con người nằm xuống.
Mà cũng lạ! “Nằm xuống” thì cũng nhiều người đã “nằm”, nhưng sao người làm thơ bay bổng, người kéo xe bò lam lũ cực nhọc này “nằm xuống” nơi xóm vắng đìu hiu ở tuổi 84, quá cái mốc “cổ lai hy” đã khá xa ấy, lại xáo động lòng người đến thế. Nườm nượp những cái tít tô đậm cùng với chân dung người làm thơ đẽo đá, đục đá, chở đá, kéo xe bò đưa ra chợ bán, chạy dài trên các trang báo dạo ấy. Nhiều trang viết cảm động của anh em bầu bạn trong nước, ngoài nước của gần 2/3 thế kỷ kể lại những hồi ức về một thời cần phải nhớ. Nếu tỉ mẩn thống kê tất cả những bài viết đăng tải trên các báo và các phương tiện truyền thông đại chúng vào dịp ấy về một nhà thơ đã làm nghề kéo xe bò suốt 30 năm để sống, để bảo toàn phẩm tính làm người của mình, có lẽ sẽ định hình được hẳn một cuốn sách cũng nên!
Nói “chữ nghĩa” ra, người ta gọi đó là những “chỉ báo xã hội học ”.
Chỉ báo đó nói lên một tâm trạng xã hội : người ta đang khao khát cái gì. Sự khao khát đó được tìm thấy ở một nhân cách suốt đời “bận việc làm người” để vượt lên sự oái oăm của thân phận con người sống vào cái buổi nhiễu nhương.
Vậy thì vì sao mà phải khao khát một nhân cách "bận việc làm người", con người đã từng “áo phai màu sa trường”   
…Chầy ngày lạc giữa núi
Sau chân lối vàng xanh tuôn
Dưới đây bên suối độc
Cheo leo chòi biên cương
… Rau khe, cơm vắt
Áo phai màu sa trường
Ngày thâu vượn hú
Đêm canh gặp hùm lang thang…

Con người ấy, vì để vẫn là
Cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời
 để bảo toàn phẩm tính làm người , đã dám từ bỏ tất cả, cam chịu sống một cuộc sống lam lũ , nhọc nhằn!
Nhân cách ấy như một lời vẫy gọi hướng tới cái thiện, cái đẹp, cái cao cả. Nhân cách ấy như một sự thách thức trước thực trạng đau lòng của một "bộ phận không nhỏ" đã tự phơi bày những dục vọng bẩn thỉu làm hoen ố gương mặt xã hội vì cách "làm người" của họ. Nghĩ kỹ ra thì cái chuyện bận bịu cao cả ấy không chỉ có ở nhà thơ đáng kính kia, vì động lực cũng như mục tiêu của sự “bận việc làm người” ấy chính là khát vọng sống của một con người hiểu rõ ý nghĩa cuộc sống : sống sao cho xứng đáng với phẩm tính làm người.
Xét đến cùng, đó là khát vọng tự do.
Mà xem ra Nguyễn Công Trứ muốn “làm cây thông đứng giữa trời mà reo” cũng là thể hiện cái khát vọng tự do ấy. Uy Viễn tướng công đã trải nghiệm được chuyện “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”, những muốn “Kình thiên một cột giơ tay chống/ Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao” thế mà kết cục về hưu nơi quê nhà với ba gian nhà tre xơ xác như thưở nào của “Hàn nho phong vị phú” : “Bốn vách tường mo, ba gian nhà cỏ/ Đầu kèo mọt tạc vẻ sao, trước cửa nhện giăng màn gió….Ấm chè góp lá bàng lá gối, pha mùi chát chát chua chua, Miếng trầu têm vỏ mận vỏ đà, buồn miệng nhai nhai nhổ nhổ…”. Trước khi chết, cụ Uy Viễn lập di chúc để lại, từ chối mọi nghi lễ chính sách của triều đình dành cho công thần, dặn chôn ngay nơi huyệt đã đào sẵn dưới chõng tre, và trồng bên mộ một cây thông (6).
Thì ra lịch sử vòng vèo cứ như lặp lại trên một vòng xoáy trôn ốc! Những con người muốn sống ngay thẳng, “kình thiên một cột”, như dáng cây cau, cây thông, cây tùng tượng trưng cho người quân tử, thì đều phải chịu một số phận bi thương.
Thì như Nguyễn Trãi, một ví dụ quá tiêu biểu. Đứng hàng đầu bảng xếp hạng hiền tài của đất nước, “Ức Trai lòng dạ sáng như sao Khuê”, văn tài thuộc loại “danh nhân thế giới”, công huân xếp vào đấng bậc anh hùng chẳng ai sánh kịp, thế mà chính ông đã sớm “ngộ” ra được một sự thật phũ phàng : “Cổ lai thức tự đa ưu hoạn, Pha lão tằng vân ngã diệc vân” [xưa nay người biết chữ thường lắm lo âu và hoạn nạn. Cụ già Tô Đông Pha đã nói như thế và ta cũng nói như thế]! Con người ấy như đã tiên đoán được số phận của mình!
Nói về "thời gian", cảm nhận về thời gian và cuộc sống con người", có lẽ ít có lời thơ nào cô đọng và xao động lòng người hơn : “Thời gian như nước trôi vèo/ Anh hùng ôm hận rụng theo lá vàng [Nguyễn Duy dịch thơ] *, “Kim cổ vô cùng, giang mạc mạc; Anh hùng hữu hận, điệp tiêu tiêu” [Xưa và nay thật khôn cùng, như sông trôi vời vợi; Người anh hùng ôm nỗi hận, như lá rơi vèo].  Để rồi đại danh tướng biết "chinh phục tâm công", "đánh vào lòng người", nhà đại văn hào Nguyễn Trãi "lòng dạ sáng như sao" những chỉ muốn
Thèm khi dứt lụy nhân gian
 Chết như hạc trắng bên ngàn hoa kia[Nguyễn Duy dịch thơ] *
Tiện sát hoa biên song bạch hạc,
Nhân gian lụy bất đáo thương chu .[Thèm được chết như đôi hạc trắng ở bên hoa, (nơi) bãi biếc xanh ấy, lụy nhân gian sẽ không tìm đến được]. Dứt khoát và triệt để đến thế là cùng, xa lánh đến cả nỗi phiền lụy của người đời, không màng đến cả chuyện người đời sau nhìn nhận về mình!
Gợi lên đôi nét về Nguyễn Công Trứ, về Nguyễn Trãi cũng chỉ để nói rằng, chuyện một nhà thơ đương đại quyết làm nghề kéo xe bò kiếm sống và để làm thơ chứ không chịu để cho mình bị “đẽo tròn” để vẫn giữ được là mình, “cây gỗ vuông chành chạnh”, đâu có gì lớn lao, hoành tráng! Vậy mà biểu tượng của nhân cách ấy lại có sức lay động tâm tư của cả một lớp người, rồi lan tỏa trong dư luận xã hội đến thế. Phải chăng, cái quán tính hướng thiện tuy có bị tác động bởi những nhiễu nhương của nhiều nghịch lý trong sự đảo lộn hệ thống giá trị, trong sự lay chuyển của cái kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội đang làm băng hoại phẩm tính làm người, song vẫn còn đủ lực để đón nhận những tín hiệu của khát vọng sống hướng về cái cao cả đối lập với cái thấp hèn.
Nhắc nhở, tưởng nhớ đến con người từng tự bạch :
"Tôi, cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời
            Ðã làm thất bại âm mưu
            đẽo tròn
            để muốn tùy tiện
            lăn long lóc
            thế nào
            thì lăn lóc.
            Chân lý đấy
            hỡi
            rìu
            bào
            phó mộc
"
nhằm tạo nên một phản ứng dây chuyền mạnh mẽ, một cái cớ để dư luận xã hội bộc lộ khát vọng hướng thiện và chĩa mũi nhọn phẫn nộ vào cái ác, cái dối trá đang được tô son trát phấn để lừa mị người đời, trước hết là lừa mị tuổi trẻ.
Qua thân phận của một nhà thơ với những ứng xử của ông, cuộc đời nghiệm ra được một quy luật thật nghiệt ngã nhưng cũng thật bi tráng! Cái quy luật mà Nguyễn Trãi từng đúc kết : “Họa phúc hữu môi phi nhất nhật, Anh hùng di hận kỷ thiên niên” [Họa và phúc có mối manh của nó, đâu phải là kết quả của một ngày; Người anh hùng để lại mối hận đến ngàn năm]. Đó là bài học không chỉ từ một người, mà từ cuộc sống với những trải nghiệm xuyên suốt lịch sử từ xưa cho đến nay. “Xưa” thì đã vậy, rõ rồi. Thế còn “nay” ? Những kẻ “thức tự”, người “biết chữ”, những người trí thức đích thực liệu có còn “đa ưu hoạn”?
Giải thích sao đây một Trần Đức Thảo, “người Việt Nam duy nhất được coi là triết gia[Trần Văn Giàu] mà những tác phẩm của ông được nhiều học giả thế giới nhìn nhận là những cống hiến xuất sắc cho triết học thế kỷ XX, đã rời Paris, nơi đang hứa hẹn cho một sự nghiệp khoa học lẫy lừng, để về Việt Bắc tham gia kháng chiến năm 1951 để rồi bị quy là “Nhân Văn Giai phẩm” bị tước quyền giảng dạy và nghiên cứu ở trường Đại học để rồi chỉ được làm một người phiên dịch! Mặc dầu vậy, thời gian này ông vẫn cho ra đời hàng loạt bài báo nổi tiếng và những tác phẩm triết học tầm cỡ để khó khăn lắm mới được gửi in ở nước ngoài.. Có thể kể tên vài công trình đó như: “Hạt nhân hợp lý của phép biện chứng Hégel [1965], “Từ tác động định hướng đến hình ảnh điển hình” [1969-1970], “Nghiên cứu về nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức” [1973], “Từ hiện tượng học đến phép biện chứng duy vật của tri thức”[1975]… Ông bị giám sát chặt chẽ vì những bài giảng và bài viết của ông, trong đó có bài “Khuyến khích tinh thần tự do dân chủ” và bài “Nội dung xã hội và những hình thức của tự do”. Năm 1992, ông trở lại Paris dưỡng bệnh đồng thời để lấy thêm tư liệu nhằm hoàn thành công trình nghiên cứu “Lô gich của hiện tại sống động” nhưng cuốn sách chưa hoàn thành thì ông mất một năm sau đó!6
 Bi kịch của Trần Đức Thảo không là duy nhất. Những Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Nguyễn Hữu Đang và bao nhiêu người khác nữa, trong đó chỉ xin nói đến Văn Cao, một đỉnh cao của âm nhạc, hội họa, thi ca, tác giả của “Tiến quân ca” được chọn làm Quốc ca, cũng cùng chung số phận như vậy! Và còn biết bao người có tên, được biết đến tên, bao người có tên hẳn hoi nhưng chưa kịp để cho ai được biết, đã cùng chịu một số phận như vậy. Đây là bi kịch của lịch sử, và là nỗi đau của văn hóa. M.Gorky quả là sâu sắc khi sớm cảnh báo nguy cơ “cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng” và nhà văn hào Xô Viết ấy đã gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh người Nga về “một nền văn hóa đang lâm nguy”! Khi người trí thức đích thực bị chối bỏ, người nghệ sĩ tài danh bị hắt hủi thì đó chính là biểu hiện của sự “lâm nguy” của văn hóa. Bởi vậy, một người làm thơ phải hành nghề kéo xe bò trong suốt 30 năm nhằm quyết giữ cho được phẩm tính làm người để tiếp tục làm thơ, và rồi khi nằm xuống đã gọi dậy trong lòng xã hội một khát vọng sống, thì quả thật con người “bận chuyện làm người” ấy đã góp phần cứu nguy cho văn hóa bằng cách nhen lên một ngọn lửa của văn hóa.
Thật ra, nếu soi kỹ vào lịch sử, đã không thiếu những nhân cách lớn dưới nhiều dạng vẻ khác nhau từng nhen lên ngọn lửa văn hóa, nói như Phan Huy Ich : "kẻ sĩ đời nào cũng có, văn chương nảy nở như rừng. Nếu chẳng phải trải qua cướp boc, đốt phá mà hóa tro tàn, thì hẳn là trâu kéo đến toát mồ hôi, chứa đầy đến tận xà nhà"! Bởi xét đến cùng, ngọn lửa ấy lấp lánh khát vọng tự do. Khát vọng ấy chính là khát vọng sống của con người. Không có tự do suy nghĩ, tự do biểu lộ sự suy nghĩ ấy với đồng loại, thì cuộc sống con người khác gì cuộc sống con vật? "Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do!".
Dưới nhiều dạng vẻ khác nhau ấy, ngọn lửa văn hóa kia đã làm hiện rõ lên những bóng đen của sự dối trá đang như một bệnh dịch tàn phá đời sống tinh thần của xã hội, làm đảo lộn phải trái, lẫn lộn trắng đen. Đáng sợ hơn nữa khi sự giả trá ấy đang được mở hết công suất, khiến tai của mỗi người đều đều được rót vào từng ngày từng đêm, mắt của mỗi người đều đều được chiếu vào từng giờ từng phút, làm cho thần kinh của mỗi người quen đi, chai lì đi, không còn nổi phản ứng tự vệ nữa. Dưới nhiều dạng vẻ khác nhau ấy, khát vọng tự do tiềm ẩn trong những ứng xử không ai giống ai nhưng mục tiêu hướng tới thì đều gặp nhau. Thì chẳng phải như lời của Thiền sư Baling Haojian trả lời môn đệ : Khi vịt lạnh, chúng lội xuống nước. Khi gà lạnh chúng đậu trên cây đó sao. Để đạt mục tiêu không chỉ có một con đường!

 Chẳng hạn, khát vọng tự do của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã giục giã ông sớm trở về Côn Sơn để
Hạm lý vân sơn vô sủng nhục,
Thành trung hiên miện tổng trần sa
 [Trong hiên nhìn mây núi không còn gì là vinh nhục nữa. Đám xe mũ ở trong thành kia chẳng qua chỉ là cát bụi mà thôi”]!
Cát bụi, nhưng thật là đáng sợ vì nó làm vẩn đục bầu không khí để thở. Không chỉ thế, chúng đang nắm lấy quyền hành, đang điều hành bộ máy bạo lực để bóp chết mọi khát vọng tự do!  Chính vì Nguyễn Trãi hiểu ra được sự bẩn thỉu nhơ nhớp cũng như sự độc ác tồi tệ của "đám xe mũ ở trong thành kia" nên ông phải lánh xa. nhưng rồi, cho dù muốn lánh xa, ông vẫn không tránh khỏi họa bị tru di! Ông là nạn nhân không thể chối bỏ của "đám xe mũ ở trong thành" ấy đấy. Cũng như Khuất Nguyên nhảy xuống dòng sông Mịch La vì cho rằng, "đời đục cả chỉ mình ta trong, đời say cả chỉ mình ta tỉnh". Vậy mà, xét đến cùng, mọi dòng sông đang chảy trên quả đất này đều có thể là sông Mịch La cả nếu con người không biết cách ứng xử đúng với chúng.
Cho nên, có thể đặt một câu hỏi, nếu Nguyễn Trãi quyết liệt chống trả những "cát bụi" kia bằng tận lực khả năng chính mình dưới mọi hình thức, liệu có thể tránh được họa tru di không? Và rồi tiếp theo một câu hỏi khác : cái "đám xe mũ ở trong thành" ấy rồi sẽ ra sao trong chính cuộc tranh giành đẫm máu cái ghế quyền lực kia?
Quyền lực, thì đến như Alexandre Đại Đế là tột đỉnh chứ gì. Vậy mà ý nguyện lúc lâm chung của người tột đỉnh quyền lực ấy đã cho thấy quyền lực, danh vọng và của cải tiền bạc đều là chuyện phù du khi cái quỹ thời gian đã bị phung phí. Vả chăng, nếu cuộc đấu đá tranh giành quyền lực vốn là sản phẩm bi đát của lịch sử đã trở thành quy luật. Càng bi đát hơn nữa khi người ta xác định đấu tranh giai cấp là động lực của sự phát triển lịch sử, rồi nhằm thực hiện những âm mưu quỷ kế để tranh đoạt quyền lực, người ta khoác cho chúng những tấm áo mỹ miều mà lừa mị những người nhẹ dạ cả tin! Rốt cuộc thì như Các Mác đã viết : bi kịch trở thành hài kịch để nhân loại vui vẻ từ bỏ quá khứ! Bi hài hơn nữa là khi người ta lại cả gan viết rằng : thuở Cách mạng Tháng Mười Nga chưa nổ ra thì "Trái đất còn nức nở/Nhân loại chưa thành người/Đêm ngàn năm man rợ!
Nhưng nếu so sánh thân phận của những tên tuổi trí thức Việt Nam vừa kể ra ở trên sẽ cũng chưa là gì so với hàng vạn trí thức Nga bị đày đi Xi bê ri, hoặc bị đẩy xuống những con tàu chuyển ra nước ngoài theo sắc lệnh của nhà nước Xô Viết của cái thuở "trái đất bắt đầu cười/ và loài người từ đấy/ ca bài ca Tháng Mười"!
Và càng chưa là gì nếu so với những con số khủng khiếp về trí thức bị thủ tiêu dưới thời Stalin, cũng như hàng chục triệu người [trong đó có không ít trí thức] chết trong "Cách mạng Văn hóa vô sản" dưới triều đại Mao. Trong tác phẩm "Mao Trạch Đông nghìn năm công tội", Tân Tử Lăng viết "cho dù lịch sử Trung Hoa có không ít hôn quân, có lẽ không một thiết chế nào trước đó cho phép một con người có thể táng tận như Mao tồn tại.. Mao nói: “Phải chuyên chế, phải kết hợp giữa Karl Marx và Tần Thuỷ Hoàng”. Chính vì thế mà trước khi  phát động "đại cách mạng văn hóa vô sản" đã có 552.877 trí thức là nạn nhân của “Vụ án chống đảng” sau ngày Mao gặp trí thức 30-4-1957 tại Bắc Kinh! Người ta cho rằng đó là hệ lụy trực tiếp của lời phát biểu của  La Long Cơ, lãnh tụ của giới trí thức từ Âu-Mỹ trở về : “Tiểu trí thức chủ nghĩa Marx-Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản là người mù chỉ đường cho người sáng mắt” làm Mao nổi giận.
Câu thơ đúc kết về thân phận của "người biết chữ" trong lịch sử của Tô Đông Pha được Nguyễn Trãi nhắc đến vừa dẫn ra ở trên dường như chưa đủ để nói về thân phận của người trí thức sống dưới những chế độ như chế độ của Mao. Thời gian và cuộc sống cũng dường như nghiệt ngã hơn đối với những người đang nuôi trong tim mình khát vọng dân chủ và tự do. Nhưng cũng chính vì thế, mà họ phải giành giật thời gian để sống cuộc sống xứng đáng với con người, để quyết liệt thực hiện khát vọng dân chủ và tự do. Họ phải tự cháy hết mình trong ngọn lửa đấu tranh cho khát vọng cao cả đó. Nhất là với những ai mà quỹ thời gian dành cho cuộc sống của họ không còn nhiều. Họ lòng tự nhủ lòng :
       Nếu tôi không cháy lên
                  Nếu anh không cháy lên
      Nếu chúng ta không cháy lên
                  Thì làm sao
                  Bóng tối
                  Có thể trở thành
                  Ánh sáng?     
 
[ Thơ Nadim Hitmet. Cao Xuân Hạo dịch] 
____________________

Chú thích:
1và 6. Dẫn theo Hoàng Phủ Ngọc Tường. “Người ham chơi” NXB Thuận Hoa1998, tr.150
2 ,4 và 5. dẫn theo Nguyễn Duy và  Phạm Xuân Nguyên, Tuổi Trẻ 20.3.2010
3. Dẫn lại theo Đặng Tiến . “Hữu Loan, Đèo Cả”.Orléans, vào Xuân,   21.3.2010
6. Dẫn lại theo Hoài Anh. Tạp chí “Xưa &Nay” số tháng 3.2010, tr. 36, 37
*  Trích trong  “Nguyễn Trãi. Về Côn Sơn Tuyển tập thư chữ Hán. Nguyễn Duy chủ biên. NXBVHSG.2009

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét