Khai bút đầu Xuân
THỜI GIAN VÀ CUỘC SỐNG
Tương
Lai
Chuyện
này chẳng có gì mới. Nỗi "Cảm hoài"
của Đặng Dung thế kỷ XV vẫn không cũ với buổi hôm nay, "Việc đời dằng dặc mà ta thì đã già rồi, biết
làm thế nào"[Thế sự du du nại lão hà]. Thời gian không hào phóng nhưng cũng chẳng nghiệt ngã với
riêng ai. Tùy theo quan niệm
sống của từng người, thời gian có thể là một thúc bách, một niềm an ủi hay một
lời cảnh báo.
Chẳng
thế mà ý nguyện lúc lâm chung của Alexandre Đại Đế, con người đã từng chót vót
trên đỉnh cao quyền lực lại là : " Ta muốn chính các bác sĩ giỏi nhất khiêng
quan tài của ta để chứng tỏ rằng, đối diện với cái chết, chính họ cũng không có
quyền năng chữa lành bịnh.. Ta muốn mặt đất được phủ đầy kho báu của ta để mọi
người hiểu được rằng, những tài sản vật chất thu gom được tại đây sẽ ở lại trên
mặt đất này. Ta muốn hai bàn tay ta được thò ra ngoài quan tài và đong đưa
theo gió để cho dân chúng thấy rằng : chúng ta đến cõi đời này với
hai bàn tay trắng, và chúng ta sẽ ra đi cũng với hai bàn tay trắng khi chúng ta
đã xài hết kho tàng quí giá nhất của mỗi chúng ta là thời gian!
Câu nói của nhân vật trong "Thép đã tôi" từng một thời được dựng thành châm ngôn dẫn dắt
lý tưởng cho một thế hệ tuổi trẻ đang khao khát được sống " mỗi người chỉ sống có một lần , vì vậy phải
sống thế nào để lúc nằm xuống..." vốn có vị trí lịch sử của nó trong
định hướng sống từng được các kênh truyền thông mở hết công suất. Vào buổi ấy,
người ta chưa biết được rằng, cũng từng có một mẫu người khác đã dám tự xác
định cho mình một cách sống bằng chính hành động quả cảm của mình mà các kênh
truyền thông kia lờ tịt vì không thể biết, hoặc có biết thì lại được giải thích
theo một "định hướng " ngược lại.
Chuyện gì thế? Chuyện một nhà thơ nọ "bận việc làm người".
Tưởng bận việc gì, hóa ra việc “làm người”. Cả đời bận việc làm
người! Thoạt nghe cứ ngỡ như là một câu đùa! Nhưng ngẫm nghĩ kỹ, bỗng giật
mình. Đâu có đùa. Đây là câu chuyện nghiêm túc, cực kỳ nghiêm túc, chuyện
làm người! Chuyện rằng, trả lời câu hỏi " ông bận việc gì nhất, nhà
thơ Hữu Loan thản nhiên đáp: “Bận việc làm người”. Chuyện này bỗng
bật dậy trong đầu khi ngồi trước bàn phím máy tính để viết một bài"khai bút đầu xuân" ! Đúng là
"bật dậy" vì đây là một suy tư dai dẳng, đúng hơn, một nỗi ám ảnh lớn
trong tâm trí khi phải chạy đuổi theo thời gian để cố làm cho được một số việc mà lòng tự dặn lòng phải hoàn tất khi mà quỹ
thời gian còn quá eo hẹp. Mà, "làm
người" như nó vốn phải vậy không dễ!
Chẳng thế mà đã từng có một sự phẫn chí đã tạo ra được
một hình tượng dữ dội tạc vào thế thái nhân tình : “Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.
Thốt lên sự phẫn chí dữ dội đó chẳng phải ai khác, mà là Nguyễn Công Trứ, một
tài danh hiếm có, “thọ tám mươi tuổi, làm
quan trong ba chục năm, mà sao Cụ làm được nhiều việc đến thế, tưởng chừng đời
Cụ dài gấp hai, ba kiếp người…cầm quân đến tài danh tướng, làm thơ đến bậc văn
hào”(1)
thế mà, nếu có kiếp sau, thì Cụ không thèm “làm
người” nữa. Vậy là cái cớ làm sao?
Con người ấy từng băn khoăn : “Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi, Vạn sáu tiêu nhăng đã hết rồi …Trót sinh ra thời phải có chi chi, Chẳng lẽ
tiêu lưng ba vạn sáu ”? Chuồi theo dòng chảy thời gian “Trẻ thì nghèo, lớn thì sang, già thì hưu,
rốt cuộc lại giấc Hoàng Lương đã tỉnh”! Con người ấy cũng “…đi học đi hiếc, đi thi đi thiếc, lấy vợ lấy
việc, làm quan làm kiếc. Ấy ai ai ta cũng ai ai. Ai ấy ấy ta thời ấy ấy …”.
Con người ấy kiêu bạc mà rằng, “Nhớ ngày
xưa vua Thần Nông giá sắc, vua Đế Thuấn canh vân. Cùng quằng cúng quẳng cùng
quăng. Tống bất ngoại bò vàng chi liếm lá”. Uy Viễn tướng công không cần phải đến cuối đời mới “ngộ” ra một
sự thật khá phũ phàng: “Anh phải tự làm
hoa tiêu lấy chính mình qua bão giông sấm chớp
Mà đôi khi chỉ để
từ mình bay cho đến được chính mình thôi”
như
nhà thơ Chế Lan Viên đã tự bạch trong di cảo thơ của mình.
Nhà thơ đương đại sống sau cụ Uy Viễn đến hai thế kỷ ấy
nhận ra rằng
“Khi anh gần chạng
vạng
Thì có người bình minh!
Cho nên
“Đừng
lấy hoàng hôn anh ngăn cản
Ban mai của họ sinh thành”.
Sinh
thành, để rồi “từ mình bay cho đến được chính mình thôi”. Mà đến được chính
mình quả là khó! Hơn nữa, thật chua chát cho cuộc đến ấy :
“Những thi sĩ cỗi
già đi quanh cái cây danh vọng già nua
Lượm tên tuổi mình
rụng quanh gốc già như quả khế chua
Lượm cái hào quang
cũ héo hon như chùm táo rụng.
Họ ăn lại cái miếng
ngon một thời danh vọng
Ngon thay là cái
quả cuối mùa!”.
Thế mà,
“cái quả cuối mùa” của “nhà thi sĩ cỗi già” kia, tác giả của “Màu tím hoa sim”, của "Đèo Cả"...lại có cái vị ngon đến tê
lưỡi vì được chưng cất từ chính những năm tháng dữ dội của cuộc đời một con
người thật đáng mặt làm người. Con người ấy tự
khẳng định :
Là người, chúng
ta
không ai biết
cúi đầu.
[Giai phẩm mùa Thu, tập 2, 1956 “Cũng những thằng nịnh hót” ]
Chính vì không biết cúi đầu, cho nên khi trả lời câu hỏi
của các bạn thơ về “cuộc đời thật ngang
tàng, ngang trái mà cũng thật hiên ngang, một cuộc đời tất tả bận rộn… ông bận
việc gì nhất, nhà thơ Hữu Loan thản
nhiên : “Bận việc làm người”.(2)
Bận lắm việc “làm
người” của một con người không biết cúi đầu, giống như Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Cứ xem
công việc mà con người bận bịu ấy đòi hỏi phải bắt tay vào làm, mới thấy ra
được chuyện ấy “bận” đến thế nào.
Chẳng hạn như việc “tổng
vệ sinh” nhằm làm cho “chế độ chúng
ta…sạch” :
Một điều đau xót
Trong chế độ chúng ta
Trong chế độ Dân chủ Cộng hòa
Những thằng nịnh còn thênh thang đất sống
Chúng
nó ngụy trang
Bằng tổ chức
bằng
quan điểm nhân dân
bằng lập trường chính sách
Chúng nó còn thằng nào
Là chế độ chúng ta chưa sạch
Phải làm tổng vệ sinh cho kỳ hết
mọi thằng.
Những người đã đánh bại xâm lăng
Đỏ bừng mặt vì những tên quốc sỉ
Những người biết
“đỏ bừng mặt” ấy đòi hỏi phải
Băng bó lại mùa xuân
Cùng nói lên
nói
lớn
một lần
Không được giẫm lên mùa xuân
…
Không được
giẫm chân lên
lòng
người.
[
Giai Phẩm, Xuân 1957, nxb Văn Nghệ, Hà Nộị ]
Đòi phải làm
những việc tày trời như vậy thì bận cả đời là phải!
Mà chắc gì một
đời người làm được một công việc lớn lao
đến thế. Cho dù con người ấy đã từng được gọi là “một Đỗ Phủ của thời mới”
: trên báo Văn Nghệ, số 7, tháng 12-1948, Xuân Diệu viết : “ Tôi yêu, tôi phục bài thơ hoang vu Đèo Cả. Một Đỗ Phủ của thời mới đã gọi cái đèo chênh vênh ấy, đứng trong
đất nước ta, đứng giữa Phú Yên với Khánh Hòa, mà lại hóa thành heo hút quá. Vì
bên này là ta, bên kia là giặc. Nhất là khi chiến tranh chưa lan toàn quốc, từ
Bắc Bộ, đi suốt vào Đèo Cả, lên Đèo Cả thấy bên kia giặc rắc tai ương. Đèo Cả
biên thùy, đứng trên đầu bể thẳm đụng tới mây cao, Đèo Cả treo giữa biên thùy,
mà cái đẹp trầm hùng ngang với lòng chiến sĩ ”. (3)
Và rồi, tác giả của “Đèo Cả”, cái ông “Đỗ Phủ của thời mới” ấy, nếu chưa được
như là danh xưng mà cảm hứng thăng hoa của thi sĩ nọ đã tạo dựng, thì cũng là
một tài thơ đã có những đóng góp độc đáo vào nghệ thuật thi ca từ thời 1945 đến
lúc ấy [đương nhiên là cả đến tận bây giờ], dứt khoát từ bỏ Thủ đô, từ bỏ tất
cả, để trở về cái xóm nghèo nơi ông đã sinh ra ở Nga Sơn, Thanh Hóa làm nghề
đẩy xe bò chở những gì người ta thuê, để kiếm sống, và để làm thơ như đã từng
làm trước đó nhiều năm.
Vì thế mà không lạ vào dạo ấy, khi tin tác giả “Màu tím hoa sim” mất đã lan nhanh như
một phản ứng dây chuyền trong những tâm hồn đồng điệu. Bởi lẽ “Những
nhát thơ Hữu Loan đục vào thời gian, đục vào tâm khảm, để lại dấu tích”
cho cuộc đời. Nhưng có lẽ cùng với những “nhát
thơ” đó, cái mà xã hội nhớ đến ông, trân trọng ông là bản lĩnh, là nhân
cách của ông, như ông đã tự nói về mình : “Tôi, cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời".
(4)
Chính vì không chịu để cho ai “đẽo tròn” cái phẩm
tính làm người, mà người đã từng được bầu làm Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân
lâm thời tại Thanh Hoá nhận ra cái ghế chủ tịch không hợp với “tạng” của mình
nên ông xin vào bộ đội, rồi làm Trưởng Phòng Tuyên huấn sư đoàn, nói theo ngôn
từ của một lão nông xứ Thanh: “đỗ tú tài
Tây, làm quan cách mạng thời khởi nghĩa 45, thời kháng chiến”(5),
bỏ thủ đô về lại làng quê kiếm sống với nghề đục đá đẩy xe ra chợ bán. Cứ thế,
ông sống bằng cái nghề vất vả, cực nhọc trong suốt mấy chục năm trời để nuôi
con ăn học và để “làm thơ”! Và chính đó là cội nguồn của sự đồng cảm và tôn
vinh của xã hội hôm nay đối với một con người nằm xuống.
Mà cũng lạ! “Nằm
xuống” thì cũng nhiều người đã “nằm”,
nhưng sao người làm thơ bay bổng, người kéo xe bò lam lũ cực nhọc này “nằm xuống” nơi xóm vắng đìu hiu ở tuổi
84, quá cái mốc “cổ lai hy” đã khá xa
ấy, lại xáo động lòng người đến thế. Nườm nượp những cái tít tô đậm cùng với
chân dung người làm thơ đẽo đá, đục đá, chở đá, kéo xe bò đưa ra chợ bán, chạy
dài trên các trang báo dạo ấy. Nhiều trang viết cảm động của anh em bầu bạn
trong nước, ngoài nước của gần 2/3 thế kỷ kể lại những hồi ức về một thời cần
phải nhớ. Nếu tỉ mẩn thống kê tất cả những bài viết đăng tải trên các báo và
các phương tiện truyền thông đại chúng vào dịp ấy về một nhà thơ đã làm nghề
kéo xe bò suốt 30 năm để sống, để bảo toàn phẩm tính làm người của mình,
có lẽ sẽ định hình được hẳn một cuốn sách cũng nên!
Nói “chữ nghĩa” ra, người ta gọi đó là những “chỉ
báo xã hội học ”.
Chỉ báo đó nói lên một tâm trạng xã hội : người
ta đang khao khát cái gì. Sự khao khát đó được tìm thấy ở một nhân cách
suốt đời “bận việc làm người” để vượt lên sự oái oăm của thân phận con
người sống vào cái buổi nhiễu nhương.
Vậy thì vì sao mà phải khao khát một nhân cách "bận
việc làm người", con người đã từng “áo
phai màu sa trường”
…Chầy ngày lạc giữa núi
Sau chân lối vàng xanh tuôn
Dưới đây bên suối độc
Cheo leo chòi biên cương
… Rau khe, cơm vắt
Áo phai màu sa trường
Ngày thâu vượn hú
Đêm canh gặp hùm lang thang…
Con người ấy, vì
để vẫn là
“Cây
gỗ vuông chành chạnh suốt đời
để bảo toàn phẩm tính làm người , đã
dám từ bỏ tất cả, cam chịu sống một cuộc sống lam lũ , nhọc nhằn!
Nhân cách ấy như một lời vẫy gọi hướng tới cái thiện, cái
đẹp, cái cao cả. Nhân cách ấy như một sự thách thức trước thực trạng đau lòng
của một "bộ phận không nhỏ" đã tự phơi bày những dục vọng bẩn thỉu
làm hoen ố gương mặt xã hội vì cách "làm người" của họ. Nghĩ kỹ ra
thì cái chuyện bận bịu cao cả ấy không chỉ có ở nhà thơ đáng kính kia, vì động
lực cũng như mục tiêu của sự “bận việc làm người” ấy chính là khát
vọng sống của một con người hiểu rõ ý nghĩa cuộc sống : sống sao cho
xứng đáng với phẩm tính làm người.
Xét đến cùng, đó là khát vọng tự do.
Mà xem ra Nguyễn Công Trứ muốn “làm cây thông đứng giữa trời mà reo” cũng là thể hiện cái khát vọng
tự do ấy. Uy Viễn tướng công đã trải nghiệm được chuyện “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”,
những muốn “Kình thiên một cột giơ tay
chống/ Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao” thế mà kết cục về hưu nơi quê nhà
với ba gian nhà tre xơ xác như thưở nào của “Hàn nho phong vị phú” : “Bốn
vách tường mo, ba gian nhà cỏ/ Đầu kèo mọt tạc vẻ sao, trước cửa nhện giăng màn
gió….Ấm chè góp lá bàng lá gối, pha mùi chát chát chua chua, Miếng trầu têm vỏ
mận vỏ đà, buồn miệng nhai nhai nhổ nhổ…”. Trước khi chết, cụ Uy Viễn lập
di chúc để lại, từ chối mọi nghi lễ chính sách của triều đình dành cho công
thần, dặn chôn ngay nơi huyệt đã đào sẵn dưới chõng tre, và trồng bên mộ một
cây thông (6).
Thì ra lịch sử vòng vèo cứ như lặp lại trên một vòng xoáy
trôn ốc! Những con người muốn sống ngay thẳng, “kình thiên một cột”, như dáng cây cau, cây thông, cây tùng tượng
trưng cho người quân tử, thì đều phải chịu một số phận bi thương.
Thì như Nguyễn Trãi, một ví dụ quá tiêu biểu. Đứng hàng
đầu bảng xếp hạng hiền tài của đất nước, “Ức
Trai lòng dạ sáng như sao Khuê”, văn tài thuộc loại “danh nhân thế giới”, công huân xếp vào đấng bậc anh hùng chẳng ai
sánh kịp, thế mà chính ông đã sớm “ngộ” ra được một sự thật phũ phàng : “Cổ lai thức tự đa ưu hoạn, Pha lão tằng vân
ngã diệc vân” [xưa nay người biết chữ thường lắm lo âu và hoạn nạn. Cụ già
Tô Đông Pha đã nói như thế và ta cũng nói như thế]! Con người ấy như đã tiên
đoán được số phận của mình!
Nói về "thời gian", cảm nhận về thời
gian và cuộc sống con người", có lẽ ít có lời thơ nào cô đọng và
xao động lòng người hơn : “Thời gian như
nước trôi vèo/ Anh hùng ôm hận rụng
theo lá vàng [Nguyễn Duy dịch thơ] *, “Kim cổ vô cùng, giang mạc mạc;
Anh hùng hữu hận, điệp tiêu tiêu” [Xưa và nay thật khôn cùng, như sông
trôi vời vợi; Người anh hùng ôm nỗi hận, như lá rơi vèo]. Để rồi đại danh tướng biết "chinh phục
tâm công", "đánh vào lòng người", nhà đại văn hào Nguyễn Trãi "lòng
dạ sáng như sao" những chỉ muốn
“Thèm khi dứt lụy
nhân gian
Chết như hạc trắng bên ngàn hoa kia” [Nguyễn Duy
dịch thơ] *
Tiện sát hoa biên
song bạch hạc,
Nhân gian lụy bất
đáo thương chu .[Thèm được chết như đôi hạc trắng ở bên hoa, (nơi) bãi biếc
xanh ấy, lụy nhân gian sẽ không tìm đến được]. Dứt khoát và triệt để đến thế là
cùng, xa lánh đến cả nỗi phiền lụy của người đời, không màng đến cả chuyện
người đời sau nhìn nhận về mình!
Gợi lên đôi nét về Nguyễn Công Trứ, về Nguyễn Trãi cũng
chỉ để nói rằng, chuyện một nhà thơ đương đại quyết làm nghề kéo xe bò kiếm
sống và để làm thơ chứ không chịu để cho mình bị “đẽo tròn” để vẫn giữ được
là mình, “cây gỗ vuông chành chạnh”, đâu có gì lớn lao, hoành tráng! Vậy
mà biểu tượng của nhân cách ấy lại có sức lay động tâm tư của cả một lớp người,
rồi lan tỏa trong dư luận xã hội đến thế. Phải chăng, cái quán tính hướng thiện tuy
có bị tác động bởi những nhiễu nhương của nhiều nghịch lý trong sự đảo lộn hệ
thống giá trị, trong sự lay chuyển của cái kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội đang làm
băng hoại phẩm tính làm người, song vẫn còn đủ lực để đón nhận những tín hiệu của
khát
vọng sống hướng về cái cao cả đối lập với cái thấp hèn.
Nhắc nhở, tưởng nhớ đến con người từng tự bạch :
"Tôi,
cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời
Ðã làm thất bại âm mưu
đẽo tròn
để muốn tùy tiện
lăn long lóc
thế nào
thì lăn lóc.
Chân lý đấy
hỡi
rìu
bào
phó mộc "
Ðã làm thất bại âm mưu
đẽo tròn
để muốn tùy tiện
lăn long lóc
thế nào
thì lăn lóc.
Chân lý đấy
hỡi
rìu
bào
phó mộc "
nhằm tạo nên một
phản ứng dây chuyền mạnh mẽ, một cái cớ để dư luận xã hội bộc lộ khát
vọng hướng thiện và chĩa mũi nhọn phẫn nộ vào cái ác, cái dối trá đang
được tô son trát phấn để lừa mị người đời, trước hết là lừa mị tuổi trẻ.
Qua thân phận của một nhà thơ với những ứng xử của ông,
cuộc đời nghiệm ra được một quy luật thật nghiệt ngã nhưng cũng thật bi tráng!
Cái quy luật mà Nguyễn Trãi từng đúc kết : “Họa
phúc hữu môi phi nhất nhật, Anh hùng di hận kỷ thiên niên” [Họa và phúc có
mối manh của nó, đâu phải là kết quả của một ngày; Người anh hùng để lại mối
hận đến ngàn năm]. Đó là bài học không chỉ từ một người, mà từ cuộc sống với
những trải nghiệm xuyên suốt lịch sử từ xưa cho đến nay. “Xưa” thì đã vậy, rõ rồi.
Thế còn “nay” ? Những kẻ “thức tự”,
người “biết chữ”, những người trí thức đích thực liệu có còn “đa ưu hoạn”?
Giải thích sao đây một Trần Đức Thảo, “người Việt Nam duy nhất được coi là triết gia” [Trần Văn Giàu] mà những tác
phẩm của ông được nhiều học giả thế giới nhìn nhận là những cống hiến xuất sắc
cho triết học thế kỷ XX, đã rời Paris, nơi đang hứa hẹn cho một sự nghiệp khoa
học lẫy lừng, để về Việt Bắc tham gia kháng chiến năm 1951 để rồi bị quy là “Nhân Văn Giai phẩm” bị tước quyền giảng
dạy và nghiên cứu ở trường Đại học để rồi chỉ được làm một người phiên dịch!
Mặc dầu vậy, thời gian này ông vẫn cho ra đời hàng loạt bài báo nổi tiếng và
những tác phẩm triết học tầm cỡ để khó khăn lắm mới được gửi in ở nước ngoài..
Có thể kể tên vài công trình đó như: “Hạt
nhân hợp lý của phép biện chứng Hégel”
[1965], “Từ tác động định hướng đến
hình ảnh điển hình” [1969-1970], “Nghiên
cứu về nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức” [1973], “Từ hiện tượng học đến phép biện chứng duy vật của tri thức”[1975]…
Ông bị giám sát chặt chẽ vì những bài giảng và bài viết của ông, trong đó có
bài “Khuyến khích tinh thần tự do dân chủ”
và bài “Nội dung xã hội và những hình
thức của tự do”. Năm 1992, ông trở lại Paris dưỡng bệnh đồng thời để lấy thêm tư
liệu nhằm hoàn thành công trình nghiên cứu “Lô
gich của hiện tại sống động” nhưng cuốn sách chưa hoàn thành thì ông mất
một năm sau đó!6
Bi kịch của Trần
Đức Thảo không là duy nhất. Những Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Nguyễn Hữu
Đang và bao nhiêu người khác nữa, trong đó chỉ xin nói đến Văn Cao, một đỉnh
cao của âm nhạc, hội họa, thi ca, tác giả của “Tiến quân ca” được chọn làm Quốc ca, cũng cùng chung số phận như
vậy! Và còn biết bao người có tên, được biết đến tên, bao người có tên hẳn hoi
nhưng chưa kịp để cho ai được biết, đã cùng chịu một số phận như vậy. Đây là bi
kịch của lịch sử, và là nỗi đau của văn hóa. M.Gorky quả là sâu sắc khi sớm
cảnh báo nguy cơ “cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”
và nhà văn hào Xô Viết ấy đã gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh người Nga về “một
nền văn hóa đang lâm nguy”! Khi người trí thức đích thực bị chối bỏ,
người nghệ sĩ tài danh bị hắt hủi thì đó chính là biểu hiện của sự “lâm nguy” của văn hóa. Bởi vậy, một
người làm thơ phải hành nghề kéo xe bò trong suốt 30 năm nhằm quyết giữ cho
được phẩm
tính làm người để tiếp tục làm thơ, và rồi khi nằm xuống đã gọi dậy
trong lòng xã hội một khát vọng sống, thì quả thật con
người “bận chuyện làm người” ấy đã góp phần cứu nguy cho văn hóa bằng
cách nhen lên một ngọn lửa của văn hóa.
Thật ra, nếu soi kỹ vào lịch sử, đã không thiếu những
nhân cách lớn dưới nhiều dạng vẻ khác nhau từng nhen lên ngọn lửa văn hóa,
nói như Phan Huy Ich : "kẻ sĩ đời nào cũng có, văn chương nảy nở như
rừng. Nếu chẳng phải trải qua cướp boc, đốt phá mà hóa tro tàn, thì hẳn là trâu
kéo đến toát mồ hôi, chứa đầy đến tận xà nhà"! Bởi xét đến
cùng, ngọn lửa ấy lấp lánh khát vọng tự do. Khát vọng ấy chính
là khát vọng sống của con người. Không có tự do suy nghĩ, tự do biểu lộ sự suy
nghĩ ấy với đồng loại, thì cuộc sống con người khác gì cuộc sống con vật?
"Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do!".
Dưới nhiều
dạng vẻ khác nhau ấy, ngọn lửa văn hóa kia đã làm hiện rõ lên những bóng đen của sự dối trá đang như một
bệnh dịch tàn phá đời sống tinh thần của xã hội, làm đảo lộn phải trái, lẫn lộn
trắng đen. Đáng sợ hơn nữa khi sự
giả trá ấy đang được mở hết công suất, khiến tai của mỗi người đều đều
được rót vào từng ngày từng đêm, mắt
của mỗi người đều đều được chiếu vào từng giờ từng phút, làm cho thần kinh
của mỗi người quen đi, chai lì đi, không
còn nổi phản ứng tự vệ nữa. Dưới nhiều dạng vẻ khác nhau ấy, khát
vọng tự do tiềm ẩn trong những ứng xử không ai giống ai nhưng mục tiêu
hướng tới thì đều gặp nhau. Thì chẳng phải như lời của Thiền
sư Baling Haojian trả lời môn đệ : Khi vịt lạnh, chúng lội xuống nước. Khi gà
lạnh chúng đậu trên cây đó sao. Để đạt mục tiêu không chỉ có một
con đường!
Chẳng hạn, khát vọng tự do của danh
nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã giục giã ông sớm trở về Côn Sơn để
“Hạm lý vân sơn vô
sủng nhục,
Thành trung hiên
miện tổng trần sa”
[Trong hiên nhìn
mây núi không còn gì là vinh nhục nữa. Đám xe mũ ở trong thành kia chẳng qua
chỉ là cát bụi mà thôi”]!
Cát bụi, nhưng thật là đáng sợ vì nó
làm vẩn đục bầu không khí để thở. Không chỉ thế, chúng đang nắm lấy quyền hành,
đang điều hành bộ máy bạo lực để bóp chết mọi khát vọng tự do! Chính vì Nguyễn Trãi hiểu ra được sự bẩn
thỉu nhơ nhớp cũng như sự độc ác tồi tệ của "đám xe mũ ở trong thành kia" nên ông phải lánh xa. nhưng rồi,
cho dù muốn lánh xa, ông vẫn không tránh khỏi họa bị tru di! Ông là nạn nhân
không thể chối bỏ của "đám xe mũ ở
trong thành" ấy đấy. Cũng như Khuất Nguyên nhảy xuống dòng sông Mịch
La vì cho rằng, "đời đục cả chỉ mình
ta trong, đời say cả chỉ mình ta tỉnh". Vậy mà, xét đến cùng, mọi dòng
sông đang chảy trên quả đất này đều có thể là sông Mịch La cả nếu con người
không biết cách ứng xử đúng với chúng.
Cho
nên, có thể đặt một câu hỏi, nếu Nguyễn Trãi quyết liệt chống trả những "cát
bụi" kia bằng tận lực khả năng chính mình dưới mọi hình thức, liệu
có thể tránh được họa tru di không? Và rồi tiếp theo một câu hỏi khác : cái
"đám xe mũ ở trong thành"
ấy rồi sẽ ra sao trong chính cuộc tranh giành đẫm máu cái ghế quyền lực kia?
Quyền
lực, thì đến như Alexandre Đại Đế là tột đỉnh chứ gì. Vậy mà ý nguyện lúc lâm
chung của người tột đỉnh quyền lực ấy đã cho thấy quyền lực, danh vọng và của
cải tiền bạc đều là chuyện phù du khi cái quỹ thời gian đã bị phung phí. Vả
chăng, nếu cuộc đấu đá tranh giành quyền lực vốn là sản phẩm bi đát của lịch sử
đã trở thành quy luật. Càng bi đát hơn nữa khi người ta xác định đấu tranh giai
cấp là động lực của sự phát triển lịch sử, rồi nhằm thực hiện những âm mưu quỷ
kế để tranh đoạt quyền lực, người ta khoác cho chúng những tấm áo mỹ miều mà
lừa mị những người nhẹ dạ cả tin! Rốt cuộc thì như Các Mác đã viết : bi kịch
trở thành hài kịch để nhân loại vui vẻ từ bỏ quá khứ! Bi hài hơn nữa là khi người ta lại cả gan viết rằng :
thuở Cách mạng Tháng Mười Nga
chưa nổ ra thì "Trái đất còn nức nở/Nhân loại chưa thành
người/Đêm ngàn năm man rợ!
Nhưng
nếu so sánh thân phận của những tên tuổi trí thức Việt Nam vừa kể ra ở trên sẽ
cũng chưa là gì so với hàng vạn trí thức Nga bị đày đi Xi bê ri, hoặc bị đẩy
xuống những con tàu chuyển ra nước ngoài theo sắc lệnh của nhà nước Xô Viết của
cái thuở "trái đất bắt đầu cười/ và loài người từ đấy/ ca bài ca Tháng Mười"!
Và
càng chưa là gì nếu so với những con số khủng khiếp về trí thức bị thủ tiêu
dưới thời Stalin, cũng như hàng chục triệu người [trong đó có không ít trí
thức] chết trong "Cách mạng Văn hóa
vô sản" dưới triều đại Mao. Trong tác phẩm "Mao Trạch Đông nghìn năm công tội", Tân Tử Lăng viết "cho
dù lịch sử Trung Hoa có không ít hôn quân, có lẽ không một thiết chế nào trước
đó cho phép một con người có thể táng tận như Mao tồn tại.. Mao nói: “Phải
chuyên chế, phải kết hợp giữa Karl Marx và Tần Thuỷ Hoàng”. Chính vì
thế mà trước khi phát động "đại cách mạng văn hóa vô sản" đã có
552.877 trí thức là nạn nhân của “Vụ án
chống đảng” sau ngày Mao gặp trí thức 30-4-1957 tại Bắc Kinh! Người ta cho
rằng đó là hệ lụy trực tiếp của lời phát biểu của La Long Cơ, lãnh tụ của giới trí thức từ
Âu-Mỹ trở về : “Tiểu trí thức chủ nghĩa Marx-Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp
tiểu tư sản là người mù chỉ đường cho người sáng mắt” làm Mao nổi giận.
Câu
thơ đúc kết về thân phận của "người biết chữ" trong lịch sử của Tô
Đông Pha được Nguyễn Trãi nhắc đến vừa dẫn ra ở trên dường như chưa đủ để nói
về thân phận của người trí thức sống dưới những chế độ như chế độ của Mao. Thời
gian và cuộc sống cũng dường như nghiệt ngã hơn đối với những người đang nuôi
trong tim mình khát vọng dân chủ và tự do. Nhưng cũng chính vì thế, mà họ phải
giành giật thời gian để sống cuộc sống xứng đáng với con người, để quyết liệt
thực hiện khát vọng dân chủ và tự do. Họ phải tự cháy hết mình trong ngọn lửa
đấu tranh cho khát vọng cao cả đó. Nhất là với những ai mà quỹ thời gian dành
cho cuộc sống của họ không còn nhiều. Họ lòng tự nhủ lòng :
Nếu tôi không cháy lên
Nếu anh không cháy lên
Nếu anh không cháy lên
Nếu chúng ta không cháy lên
Thì làm sao
Bóng tối
Có thể trở thành
Ánh sáng?
Thì làm sao
Bóng tối
Có thể trở thành
Ánh sáng?
[ Thơ Nadim Hitmet. Cao Xuân Hạo dịch]
____________________
Chú thích:
1và
6. Dẫn theo Hoàng Phủ Ngọc Tường. “Người ham chơi” NXB Thuận Hoa1998,
tr.150
2 ,4
và 5. dẫn theo Nguyễn Duy và Phạm Xuân
Nguyên, Tuổi Trẻ 20.3.2010
3.
Dẫn lại theo Đặng Tiến . “Hữu Loan, Đèo Cả”.Orléans, vào Xuân,
21.3.2010
6.
Dẫn lại theo Hoài Anh. Tạp chí “Xưa &Nay” số tháng 3.2010, tr. 36, 37
* Trích trong
“Nguyễn Trãi. Về Côn Sơn” Tuyển tập thư chữ Hán.
Nguyễn Duy chủ biên. NXBVHSG.2009
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét