SUY NGẪM
DƯỚI CHÂN TƯỢNG ĐỨC THÁNH TRẦN

TươngLai
Vẫn bức tượng uy nghi và trầm mặc gần bến Bạch Đằng quận I
ấy mà sao hôm nay lại có sức lay động lòng người đến vậy. Chọn nơi đây, dưới
chân tượng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, một lựa chọn tối ưu để dâng
hoa tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống xâm lược cách
nay 34 năm. Ngày ấy, 17.2.1979 hơn sáu chục vạn quân xâm lược đồng loạt tấn
công toàn tuyến biên giới phía Bắc.
Và rồi, đúng ngày này, các tờ báo chính thống, những tờ
báo in đâm các Huân chương cao sang trên
"măng sét" để tự phong là tiếng nói của dân đều câm lặng không một
lời nói đến những người đã ngả xuống trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược
Trung Quốc, trừ tờ Thanh Niên có bài của Thiếu tướng Lê Văn Cương, một tiếng
nói hiếm hoi cất lên trong cái biển im lặng đáng sợ của một chủ trương nhất
quán, được chỉ đạo sít sao, tuyệt vời bạo liệt và triệt để.
Theo một cách nhìn và cách nghĩ "tích cực" thì đây
là một dịp cũng thật là tuyệt vời để nâng cao nhận thức cho toàn dân nhằm
"quán triệt" một chủ trương, đường lối đã định hình từ một sự cam kết
nào đó chưa dám nói ra. Không nói, song bằng sự câm lặng của tất cả các trang
báo từ trung ương đến địa phương tuân theo cây gậy chỉ huy từ nơi cao nhất đã
"nói" rất rõ ràng. Nếu lại gắn kết với cách hành xử của các thế lực
cầm quyền từ to tới nhỏ đối với những vị lão thành cách mạng, các cựu chiến
binh, những nhân sĩ trí thức và những thanh niên, sinh viên yêu nước dâng hương
và đặt hoa ở những nơi trang nghiêm để tưởng niệm những người con yêu của dân
tộc hy sinh vì sự toàn vẹn của tổ quốc, sẽ thấy rõ mồn một ai là ai đang ngự trị
trên mảnh đất thiêng thấm đẫm máu Việt Nam này. Người ta đang cố cam kết giữ
"tình hữu nghị", không muốn để những người " cùng
chung ý thức hệ" phật lòng nên đã nhẫn tâm quay lưng lại với đồng
chí đồng đội, cam lòng bỏ quên một cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc giết hại
hàng chục vạn đồng bào chiến sĩ của mình. Ai đó cố tình bỏ quên, nhưng lịch sử
của dân tộc thì đã từng ghi xương khắc cốt tội ác quân xâm lược Trung Quốc đã
gây nên trên toàn tuyến biên giới phía Bắc năm 1979, tiếp tục tội ác của bọn
Pôn Pốt và bọn quan thầy Trung Quốc của chúng gây ra trên vùng biên giới phía
Tây Nam năm 1978 khiến "trúc rừng không ghi hết tội, nước biển không
rửa sạch mùi" như xưa kia cha ông chúng đã làm mà Nguyễn Trãi đã
lên án trong "Bình Ngô đại cáo".
Làm sao có thể bỏ quên một cuộc chiến tranh làm đổ máu hàng chục vạn người con
yêu của tổ quôc, máu người đâu phải là nước lã! Vì thế mà Trần Hưng Đạo " ngày
quên ăn, đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm rằng chưa
được sả thịt lột da quân giặc dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong
da ngựa cũng cam lòng" từng viết trong "Hịch tướng sĩ " để khơi động ý chí cứu nước của các tướng sĩ
"sinh ở thời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan" không
chịu "để tiếng xấu muôn đời" để không phải tự vấn lương tâm "còn
mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa"?
Vì thế mà nói, tập họp nhau dưới chân tượng Đức Thánh Trần
là sự lựa chọn " tối ưu" để tưởng niệm đồng bào
và chiến sĩ đã hy sinh nhân kỷ niệm ngày 17.2 bởi lẽ lịch sử là một nhân tố mà thiếu
nó thì không một ý thức dân tộc nào có thể trường tồn và phát huy sức mạnh bất
tận của nó được. Khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và ý chí
quật cường thì vời đến vị tướng đã được nhân dân phong Thánh, "Đức
Thánh Trần" thì còn có nơi nào bằng?

Bầu trời xanh một màu xanh khắc khoải bên trên bức tượng vì
nó ẩn chứa quá nhiều những mông lung và cay đắng trong suy tư của những con người
hôm nay đang tập hợp dưới chân Ngài, hình ảnh tiêu biểu nhất cho bản lĩnh, khí
phách của dân tộc, biểu tượng tuyệt vời của tư thế hiên ngang, quật cường chưa
bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù. Tại đây, một quá khứ gần và một quá khứ
xa ít hay nhiều hòa quyện vào nhau trong sự đa dạng sống động của thời hiện tại
đang có quá nhiều những nghịch lý và ẩn số.
Cho nên, một ngẫu nhiên tình cờ cũng gợi lên sự thăng hoa trong liên tưởng,
khi bất chợt các
cột nước dưới chân tượng bật phun lên trắng xóa đúng lúc mọi người tề tựu chuẩn bị cho lễ dâng hoa tưởng niệm. Tường thuật
lại hiện tượng này, một nhà thơ đặt câu hỏi : đây là sự ủng hộ ngầm của những người
phụ trách công viên hay là một tình cờ tuyệt đẹp, hoặc phải chăng có phảng phất yếu tố tâm
linh?
Mọi suy đoán đều có thể. Thì
chẳng phải Nguyễn Đình Chiểu từng xúc động về "tấm lòng son gửi lại bóng trăng
rằm, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ" khiến cho "nước
mắt anh hùng lau chẳng ráo, cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm" khi
nghĩ đến những nghĩa sĩ bỏ mình vì nước đó sao? Làm sao lại không có sự xao
động huyền ảo tâm linh khi nghĩ về những người đã ngã xuống vì lẽ tồn vong của
Tổ quốc? Nhất là khi đứng dưới chân Đức Thánh Trần, biểu tượng chói sáng của
lòng yêu nước thì làm sao ngăn được sức trào dâng của nỗi niềm đất nước trong
tâm tư của những người đến đây hôm nay vì không muốn là kẻ "thấy
quốc sỉ mà không biết thẹn" như Ngài đã trách mắng trong Hịch
Tướng Sĩ!
Vị anh hùng dân tộc duy nhất
được nhân dân phong Thánh ấy chính là biểu tượng cao đẹp nhất của người hết
lòng vì nước, không bợn một chút toan tính riêng tư nhỏ hẹp vì lợi ích, quyền
lực hay dục vọng của riêng mình. Dẹp bỏ tư thù,Vương không theo ý cha mình là
Yên Sinh vương Trần Liễu,[anh ruột của Trần Cảnh tức là Trần Thái Tông] căn dặn
trước lúc lâm chung phải giành lại ngôi báu, mà chỉ dốc lòng lo cho trăm họ, toàn tâm vì việc nước. Khi Quốc
Tảng, người con trai thứ hai, lộ ra ý muốn tranh đoạt ngôi báu, Vương tức giận
mắng rằng "tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu này mà ra", rút kiếm
toan chém đứa con bất hiếu rồi dặn người con trưởng : "sau
khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng". Để
giữ sự đồng lòng dốc sức đánh giặc, Vương chủ động xóa bỏ sự hiềm khích với
Trần Quang Khải, con thứ ba của Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông, nhún
nhường không ngồi vào ghế tể tướng [Thái sư] của Chiêu Minh Vương để tiếp sứ,
cho dù đó là sự sắp đặt của vua Trần Thái Tông. Không chút gợn tâm về cái ghế
tể tướng, chỉ một lòng cứu nước, cứu dân, đấy chính là phẩm tính cao cả của Trần
Hưng Đạo
Người dốc lòng lo việc nước
cũng là người hiểu rõ sức mạnh của dân, không có dân thì không còn nước. Cho
nên "khoan sức cho dân, lấy đó làm kế sâu rễ bền gốc" là tư
tưởng chỉ đạo của người gánh trọng trách quốc gia. Được lòng dân là giữ được
nước, mất dân thì sớm muộn nước cũng mất. Càng hiểu như vậy, càng thấy ý nghĩa
sâu xa của tâm thế dân tộc tôn Trần Hưng Đạo là danh tướng bậc nhất trong lịch
sử đất nước, hơn nữa với nhân dân, Ngài là một vị Thánh, không chỉ vì sự nghiệp
hiển hách đánh tan tác đế quốc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII, mà còn vì phẩm tính
cao cả của vị danh tướng bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Sâu sắc biết bao khi
Trương Hán Siêu, tác giả của "Bạch Đằng Giang phú " kết thúc
áng văn bất hủ:“Sông Đằng một dải dài ghê, sóng xô cuồn cuộn trôi về Biển Đông. Những
người bất nghĩa tiêu vong, nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”.
Kẻ bất nghĩa và người
anh hùng thì đời nào chẳng có. Và dường như cũng thành quy luật, "kẻ bất nghĩa" bao giờ cũng phải đội
cái lốt "chính danh" để lừa
bịp người nhẹ dạ cả tin, tạo ra tình trạng vàng thau lẫn lộn, để dễ bề dựa vào
bạo lực để giữ được quyền uy. Đặc biệt là ở vào thời đoạn của buổi thoái trào,
thì chuyện này càng phơi bày rõ rệt. Trên dòng sông chảy xiết, ở những khúc
quanh đổ ngoặt, váng bẩn nổi cả lên mặt nước! Nhưng điều đó không ngăn được sức
cuộn chảy từ bên dưới! Ấy vậy mà sức cuộn chảy đó mới quyết định tốc độ của
dòng sông xuôi về biển cả.
Trong dòng chảy thời gian, những triều đại sinh thành, hưng
thịnh và rồi tiêu vong, chỉ có nhân dân là bất tử. Chuyện này không có gì mới!
Một nghìn năm trước, thiền sư Vạn Hạnh đã gợi ra hình ảnh : “Thịnh
suy như lộ thảo đầu phô”, thịnh suy nối tiếp nhau chỉ như khoảng thời
gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ mà thôi! Cho nên, “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy”,
ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy như vậy thì có gì đáng phải sợ hãi? Nhìn diễn
tiến thịnh suy của một triều đại mà chỉ như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu
ngọn cỏ, đôi mắt ấy đã thấu đến cái lẽ vô cùng. Vậy mà, ngẫm cho kỹ,
đôi mắt ấy xem ra có cái gì đó rất hiện đại. Thì chẳng thế sao, Marcel Proust, văn hào hiện đại Pháp có câu nói
bất hủ “một cuộc thám hiểm thật sự
không phải ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới, mà ở chỗ cần có đôi mắt mới”.
Đôi mắt mới ấy sẽ nhìn ra những
điều mà một đầu óc hạn hẹp, thiển cận và nô lệ vào những định kiến và những tín
điều ẩm mốc sẽ không thể nào nhìn ra được. Khi mà các cụ ta cách đây cả nghìn
năm xem chuyện thịnh suy chỉ như hạt
sương móc trên đầu ngọn cỏ, thì chẳng phải đã xác lập một cách
nhìn nhận sự vật trong mối tương quan biện chứng giữa động và tĩnh đó sao? Vì rằng, “trong quá trình phát triển, tất cả những gì trước kia là hiện thực
thì hiện nay trở thành không hiện thực, mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại,
mất tính hợp lý của chúng; và hiện thực mới, đầy sinh lực, thay thế cho hiện
thực đang tiêu vong” đó là tri thức sơ đẳng về biện chứng của sự vận
động và phát triển. Chỉ có điều, cái “hiện
thực đang tiêu vong” ấy không dễ dàng nhường chỗ cho cái mới. Sự giãy
dụa, cùng quẫy là đương nhiên! Mồm có thể rất sính nói về biện chứng nhưng não
trạng và hành vi thì cố trì kéo cái cũ ruỗng nát và đang tiêu vong! Điều này
chẳng lạ. Thì đó, Hégel quả là sâu sắc khi chỉ
ra rằng “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu
biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn
chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá”.
Không thể coi thường sự giãy dụa của cái cũ trước áp lực của cái mới, vì cái cũ ấy
đang được "tập quán thần thánh hóa". Và chính cái quán tính lịch sử
ấy đang hà hơi tiếp sức cho thực thể đã ruỗng nát tự bên trong, cố níu kéo cái
không thể níu kéo. Vì thế, lịch sử lại chứng kiến những bi kịch của sự tô son vẽ
phấn cái bên ngoài để che lấp cái bên trong ấy. Mà oái oăm thay, sự lừa mị ấy
đôi khi vẫn có được thế thượng phong cho dù hết sức bấp bênh chao đảo, nhằm kéo
dài cơn hấp hối. Vì vậy, bi kịch trở thành hài kịch, nói theo
ý của Karl Marx " là để cho nhân loại vui vẻ từ bỏ quá khứ mà
đi tới"! Không coi thường, song cần nhìn cho ra cái xu thế tất yếu
của quy luật vận động và phát triển, trong đó, phải nhận ra được sức
vận động tự thân của khối quần chúng nhân dân, một "đa số
thầm lặng" rồi sẽ là sức mạnh tạo những đột phá không sao lường
trước được.
Dưới chân tượng Đức Thánh Trần hôm nay, niềm suy tư ấy càng
bừng lên những cảm xúc mãnh liệt về truyền thống quật khởi của dân tộc ta. Quá
trình diễn biến đầy kịch tính của đất nước ta đã chứng minh sức sống kỳ lạ của
dân tộc qua những dấu ấn đậm nét của những giải pháp độc đáo cho những vấn đề
gặp phải trong cách thế ứng xử của ông cha ta.
Cứ vào lúc thời cuộc như dồn thế nước vào chân tường, thì
cũng chính vào lúc ấy đã bật ra những giải pháp mang tính đột phá. Cũng trong
bài phú vừa nhắc ở trên có một câu rất mộc mạc song triết lý ẩn chứa trong đó
lại rất thâm trầm : “Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng, bởi Đại
Vương coi thế giặc nhàn . Đây là Trương Hán Siêu nhắc lại chuyện năm
Đinh Hợi [1287] hơn 50 vạn quân Nguyên kéo sang phục thù. Vua hỏi "Giặc
tới, liệu tình hình thế nào?" Hưng Đạo Vương trả lời : "Năm
nay đánh giặc nhàn"! Phải có bản lĩnh thế nào mới thấy được cái
thế “nhàn”
trước mấy chục vạn quân xâm lược khi chúng hùng hổ kéo sang rửa hận cho hai
trận thua nhục nhã.
Trước đó một năm, năm Bính Tuất [1286], Đại Việt Sử ký Toàn thư chép :" mượn cớ đưa người đầu hàng là Trần Ích Tắc về nước lập làm An Nam
Quốc Vương. Mùa hạ, tháng 6...Vua hỏi Hưng Đạo Vương : "Thế giặc năm nay thế nào"? Vương trả lời : "... Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc
chiến trận, mà quân nó thì phải sợ đi xa. Vả lại, chúng còn nơm nớp cái thất
bại của Hằng Quán [tức Lý Hằng và Lý Quán bị giết trong cuộc chiến năm 1285]
không còn chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn".
Rõ ràng là, quyết định thắng bại trong việc đánh giặc giữ
nước tùy thuộc trước hết vào bản lĩnh, tầm nhìn của người gánh vác trọng trách
quốc gia. Chưa đánh đã run sợ trước sức mạnh của kẻ thù thì chỉ có bó gối quy
hàng và tìm cách lấp liếm cho sự ươn hèn ấy bằng sự ngụy biện về "mềm dẻo để tránh những quá khích gây
nên thảm họa". Cuộc sống đã bóc trần những "quỹ biện của ngôn
từ" nhằm lừa mị những người thiếu thông tin! Không phải ngẫu nhiên mà lịch
sử dân tộc tô đậm dũng khí của Trần Thủ Độ với câu "đầu thần chưa rơi thì xin Bệ hạ
đừng lo", ca ngợi khí phách của Trần Bình Trọng "ta
thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc", đề cao bản
lĩnh của Trần Hưng Đạo "Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần
trước đã"!
Cả ba câu nói của ba nhân vật lịch sử mà các trò nhỏ mới cắp
sách đến trường đã được biết thì đều nói đến chuyện sẵn sàng chịu đầu rơi! Tại
sao vậy? Là để dạy cho mọi thế hệ Việt một cách thế sống : sống
ngẩng cao đầu. Sống cúi đầu không phải là cách sống Việt Nam.
Đó là sự lựa chọn của dân tộc trong vị thế địa-chính trị oái oăm trứng chọi đá. Không
thể dịch chuyển cái bán đảo hình chữ S này đi nơi khác nhằm tránh tham vọng
bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán muốn mở đường về phương Nam để gỡ cái thế bí của dân số quá
đông. Vậy thì phải biết dạy cho con em Việt một cách sống "có
cứng mới đứng được đầu gió". Để khỏi nhắc lại ý mà người viết bài
này đã nhiều lần đưa lên mặt báo, xin kết thúc bằng một đoạn văn súc tích của giáo
sư Cao Huy Thuần về "Mười một chữ vàng" vừa đọc :
"Appeasement " gồm 11 chữ, đúng là 11
chữ vàng vì đó là quốc sách của thủ tướng Neville Chamberlain, quốc sách của kẻ yếu sợ kẻ mạnh... Mười
một chữ vàng của appeasement, Winston Churchill
coi như là vàng giả, vàng để cúng âm hồn. Cúng ma thì được, cúng bá chủ thì
Hitler vuốt râu mũi mà cười cho.
Chamberlain từ chức vào tháng 5-1940 và chết
nửa năm sau đó, tháng 11. Churchill lên nắm quyền, và chữ V của ông phất phới trên vinh quang của độc lập, tự do. V như là Victory, không phải V như là
vàng...Chuyện lịch sử Munich
này, ai mà không biết. Cho nên, dưới đây, tôi chỉ trích dịch vài tư liệu của
văn khố lịch sử Anh cốt làm sống lại chút ít không khí thời đó, gọi là để kỷ
niệm 80 năm ngày ra đời của một đại quốc bá chủ.Có thêm gì chăng nữa ở đây thì
cũng chỉ nhắc lại câu nói danh tiếng của tổng thống Roosevelt: "Điều
duy nhất mà ta phải sợ là chính là nỗi sợ hãi". Câu nói sao mà
tương tự một câu để đời của một bậc đại thần, chứa trọn cả linh hồn của một dân
tộc chưa hề biết sợ: "Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần
trước đã"! Dưới chân tượng
Trần Hưng Đạo hôm nay, tất thảy lũ chúng tôi cứ vang vang trong đầu câu nói bất
hủ ấy của Ngài.
Đức Thánh Trần đang nhắc nhở con cháu hôm nay một cách thế
sống : Hãy ngẩng cao đầu mà sống. Những kẻ ươn hèn, bạc nhươc không
phải là, không được là con cháu của Trần Hưng Đạo! Những suy ngẫm ấy như tăng
thêm sức mạnh và nghị lực cho chúng tôi trong cuộc chiến đấu chống lại " trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được
tập quán thần thánh hoá". Cuộc chiến đấu còn gian nan, nhưng kìa, "sóng
xô cuồn cuộn trôi về Biển Đông. Những người bất nghĩa tiêu vong, nghìn xưa chỉ
có anh hùng lưu danh".
Không dám nhận mình là anh hùng, chỉ dám lòng tự dặn lòng quyết
không là người vong ân bội nghĩa với máu của dồng đội và đồng bào mình thấm đẫm trên từng thước đất của non sông
gấm vóc cha ông để lại. Càng không thể để cho một cuộc chiến tranh cố tình bỏ
quên vì sự vong ân bội nghĩa ấy. Đấy cũng là lời nguyền dưới chân tượng Đức
Thánh Trần nhân ngày 17.2.
(bản gốc của tác giả)
Xin mời mở dòng link dưới đây để thấy rõ điều đã viết ở bài
này : "thấy rõ mồn một ai là ai đang ngự trị trên mảnh đất
thiêng thấm đẫm máu Việt Nam
này. Người ta đang cố cam kết giữ "tình
hữu nghị", không muốn để những người " cùng chung ý thức hệ" phật lòng nên đã nhẫn tâm quay lưng lại
với đồng chí đồng đội, cam lòng bỏ quên một cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc
giết hại hàng chục vạn đồng bào chiến sĩ của mình".
Gợi ý cách mở : bôi đen dòng link,
bấm chuột phải vào dòng đã
bôi đen đó, bấm tiếp chuột trái vào
dòng chữ OPEN HYPERLINK, màn hình sẽ hiện ra, đợi vài giây rồi xem và
nghe.
Ngày 17 tháng 2
Trả lờiXóaDưới tượng đài cảm tử
Thắp nén nhang thơm tưởng nhớ đồng bào
Đã bị giết bởi Trung hoa xâm lược.
Ngày 17 tháng 2
Dưới tượng đài cảm tử
Có kẻ ươn hèn vẫn sợ giặc Trung Hoa
Đâu rồi khí phách cha ông ta thuở trước
Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, từng thảm bại đất này
Ngày 17 tháng 2
Dưới tượng đài cảm tử
Ta tự nhắc mình:
Sống cúi đầu không phải là cách sống Việt Nam.