Xếp hạng tín nhiệm cho Việt Nam: Rồng hay rắn?
18/02/2013
Tiêu đề bài bình luận này vẫn còn là câu hỏi đánh
đố - về tâm thế cất cánh hay bò sát – đối với giới điều hành kinh tế
Việt Nam, trong bối cảnh nạn suy thoái kinh niên đang bước vào năm thứ
ba - từ Rồng sang Rắn.
Dấu chỉ nào?
Với những tổ chức xếp hạng tín nhiệm có uy tín nhất trên thế giới như
Fitch Ratings, S&P và Moody’s, thái độ do dự của họ khi đề cập đến
trường hợp Việt Nam vẫn luôn là một sự dè dặt luôn có nguyên do sâu xa.
Vào đầu năm 2013, Fitch Ratings – hãng xếp hạng tín nhiệm đã từng tỏ
ra rất nghiêm khắc với hiện trạng nền kinh tế nhiễu loạn số liệu, vấn
nạn nợ công vượt trần cùng vô số hệ lụy xã hội chực chờ bùng nổ ở Trung
Quốc, đã phát đi thông điệp giữ nguyên mức tín nhiệm “B+” cho Việt Nam
với triển vọng “ổn định”. Triển vọng này phản ánh kỳ vọng của Fitch rằng
các nhà làm chính sách Việt Nam sẽ đảm bảo được sự ổn định của nền kinh
tế vĩ mô, bao gồm tỷ lệ lạm phát thấp hơn, sự ổn định của VND và tránh
được tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai quá mức.
Nhưng vấn đề cần suy xét tiếp theo lại có thể được khởi nguồn từ chính
một hệ quả của nó. Vào năm trước, cũng chính Fitch đã nêu ra mức xếp
hạng “ổn định” cho nền kinh tế Việt Nam. Chỉ có điều, các chuyên gia của
Fitch đã không mấy sát thực khi họ không tận mắt chứng kiến liên tiếp
hai cái tết chìm sâu trong suy thoái của nền kinh tế và nỗi hoang mang
thu nhập của đại bộ phận dân chúng tại đất nước này.
Đúng là mức lạm phát chưa đầy 7% của năm 2012 đã được “kềm chế quyết
liệt” - như cách mô tả thiên về tính khoa trương của một số quan chức
đầu ngành - so với tốc độ gần 20% của năm 2011. Tuy nhiên đó có thật sự
là một thành tích hay không lại là chuyện khác.
Lạm phát thấp nhưng với việc tỷ lệ tăng trưởng GDP cũng bị sụt giảm
gần như tương ứng, thay cho “quyết tâm” đến 8-9% trước đó, hiển nhiên
điều này không phát đi dấu chỉ “điềm lành”. Trong thực tế, chỉ tiêu tổng
sản phẩm nội địa của Việt Nam đã giảm ít nhất một phần ba, xét về số
báo cáo. Còn nếu để ý đến tính thực chất của loại số liệu này và nếu
tham khảo những phản biện của giới chuyên gia kinh tế Hồng Kông đối với
tỷ lệ tăng trưởng GDP gần 8% hiện nay ở Trung Quốc, giới phân tích kinh
tế Việt Nam vẫn có thể rút ra một kết luận: “tốc độ tăng trưởng 5-5,5%”
của Việt Nam vẫn còn cao gấp đôi mức tăng trưởng bình quân của những
quốc gia đầu tàu kinh tế thế giới, vô hình trung trở nên một mâu thuẫn
lớn lao đến mức không thể không hoài nghi.
Sức mua của xã hội là quá lắng chìm so với tiềm lực của một thị trường
được xem là “mới nổi”. Chỉ đến những ngày sát tết âm lịch Quý Tỵ, bầu
không khí mua sắm tại một số siêu thị và chợ đầu mối mới được cải thiện
đôi chút do Ngân hàng nhà nước bơm ra đến 50.000 tỷ đồng. Song số tiền
này vẫn chỉ như một biện pháp tình thế chứ chưa thể giải quyết cái gốc
của vấn đề giảm phát.
Giảm phát lại là hệ lụy của hiện tượng lạm phát kinh niên bị ép xuống
đột ngột. Nếu vào năm 2011 - thời điểm cho một chính phủ mới và cũng
khởi phát những dấu hiệu đầu tiên của sự tụt giảm mạnh mẽ niềm tin trong
dân chúng, người ta chưa nhận ra hiện tượng này một cách rõ rệt, thì
đến năm con rồng, sức cầu xã hội đã không làm sao cất cánh được khi tỷ
lệ tồn kho của một số ngành chủ chốt như sắt thép, xi măng… vẫn đội cao
vời vợi đến 30-40%.
Tình hình kinh tế đã trở nên bi đát nhanh chóng cùng với những điều phải xảy đến.
Chặt gốc hay tỉa ngọn?
Bóng ma giảm phát cũng hiện hình cùng nợ xấu ngân hàng với nhiều số
liệu có dung sai từ 8% đến vài ba chục phần trăm và tồn kho bất động sản
từ 200.000 tỷ đồng đến hàng triệu tỷ đồng.
Nếu vào năm 2011, ít nhất một nửa số doanh nghiệp còn là “con tin” của
ngân hàng, thì đến năm sau đó, ngân hàng lại trở thành con nợ khổng lồ
của chính nó.
Một cách tính của Fitch Ratings cho thấy để tái cấu trúc lĩnh vực ngân
hàng, Việt Nam cần một khoản chi phí vào khoảng 10% GDP, tức khoảng
13,6 tỷ USD, tương đương khoảng 270.000 tỷ đồng. Rõ ràng, con số dù rất
khiêm tốn này sẽ vượt quá sức chịu đựng của ngân khố quốc gia và chỉ có
thể gây thêm sức ép quá ư nặng nề lên đầu người dân đóng thuế, nếu Ngân
hàng nhà nước thực sự muốn giải quyết tận cùng nguồn gốc nợ xấu bằng
tiền từ ngân sách chứ không phải của lớp người giàu có.
Thế nhưng nợ xấu lại đã được biểu hiện như một khó khăn dường như
không thể vượt qua. Khó khăn này đã được kín đáo che lại vào năm 2011,
và chỉ đến gần giữa năm 2012 mới được chính một số ngân hàng lớn như
ACB, BIDV, Vietcombank, Vietinbank tiết lộ. Đó cũng là thời điểm mà vài
ba lần hạ trần lãi suất huy động trước đó của Ngân hàng nhà nước đã
không tạo ra được phản ứng tích cực đáng kể nào đối với sức cầu cho nền
kinh tế. Đặc biệt, sức mua dành cho gần 200.000 căn hộ tồn đọng – như
một thống kê của hãng tư vấn bất động sản CBRE Vietnam – là hoàn toàn
vắng bóng.
Vậy điều được coi là “triển vọng ổn định” đối với nền kinh tế Việt Nam
sẽ được đặc tả như thế nào trong năm nay, và cả năm sau - 2014? Sẽ là
thái độ “lạc quan phòng thủ” và tất cả chỉ được giải quyết ở phần ngọn,
thay cho phần gốc? Hay kém lạc quan hơn, vào cái tết âm lịch năm 2014,
mọi chuyện vẫn lặp lại hình ảnh của hai cái tết trước đó với tính chất
nghiêm trọng hơn, sức cầu hụt hẫng hơn và lượng công nhân thất nghiệp
cao hơn?
Cất cánh hay bò sát?
Không hẳn đồng cảm với đánh giá của Fitch, vào tháng 9/2012, một tổ
chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế khác là Moody’s đã hạ mức tín nhiệm của
kinh tế Việt Nam một bậc xuống còn B2, với lý do hệ thống ngân hàng đang
chịu sức ép lớn bởi tác động từ việc bùng nổ tăng trưởng tín dụng trong
thời gian dài và thắt chặt chính sách. Vào thời điểm đó, xếp hạng tín
dụng của Moody’s đối với Việt Nam là mức xếp hạng thấp nhất trong ba tổ
chức xếp hạng uy tín trên thế giới khi thấp hơn 2 bậc so với xếp hạng
của S&P và thấp hơn 1 bậc so với của Fitch.
Một trong không nhiều ý tưởng phản biện kinh tế ở Việt Nam - TS Nguyễn
Đức Thành, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách, - đã
thể hiện vài nhận xét ẩn ý và rất đáng lưu tâm: “Chạm đáy và đi lên của
ta không có nghĩa là chúng ta sẽ hòa mình vào với thế giới một cách tự
nhiên. Tôi nghi ngờ điều đó, và e ngại một khuynh hướng phân ly khỏi quỹ
đạo tăng trưởng nhanh trong khu vực của Việt Nam. Bởi vì Việt Nam đã
không đạt được nhiều tiến bộ thực sự trong những năm gian khó vừa qua
trong cấu trúc và phương thức phát triển kinh tế… Tôi cho rằng khi
thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng này, Việt Nam sẽ phải tự cải cách một lần
nữa, nếu không sẽ đi theo một quỹ đạo khác, kém may mắn hơn các nước
khác”.
Theo quy luật kinh tế phổ biến, nếu một nền kinh tế không thể cất cánh
trong điều kiện “mới nổi”, gần như chắc chắn sẽ phải mất một thời gian
dài chìm trong tâm thế “bò sát”. S&P, Moody’s và cả Fitch Ratings
đều có lý do để e ngại về cái triển vọng thiếu trong sáng như thế.
Phạm Chí Dũng
http://songmoi.vn/kinh-te-kinh-doanh/xep-hang-tin-nhiem-cho-viet-nam-rong-hay-ran
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét